Website Worth

Total Pageviews

Showing posts with label Politics. Show all posts
Showing posts with label Politics. Show all posts

Thursday

Từ 1/7/2016: Sa thải người lao động trái pháp luật có thể bị tù 3 năm

Đây là nội dung đáng chú ý được quy định tại Điều 162 Bộ luật Hình sự 2015 (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016).
Theo đó, người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà thực hiện một trong các hành vi sau đây làm cho người bị thôi việc, người bị sa thải hoặc gia đình họ lâm vào tình trạng khó khăn hoặc dẫn đến đình công, thì bị phạt tiền từ 10 - 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
- Sa thải trái pháp luật đối với người lao động.
- Ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức, viên chức.
- Cưỡng ép, đe dọa buộc người lao động, công chức, viên chức phải thôi việc.
Bị phạt tiền từ 100 - 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Đối với 02 người trở lên.
- Đối với phụ nữ mà biết là có thai.
- Đối với người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
- Làm người bị buộc thôi việc, người bị sa thải tự sát.
Đồng thời, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, so với Điều 128 của Bộ luật Hình sự 1999  thì nội dung của Điều 162 Bộ luật Hình sự 2015  được quy định một cách chi tiết và rõ ràng hơn.

Monday

Mở toang cánh cửa quan hệ hợp tác với Mỹ

Báo chí Trung Quốc lại tiếp tục gây hấn Việt Nam với những bài viết cho rằng Bắc Kinh có thể tấn công thành phố Hồ Chí Minh chỉ trong vòng 1 giờ từ đảo Chữ Thập, nơi họ công khai xâm chiếm của Việt Nam trước đây.

        Hành động khiêu khích nước lớn này xảy ra liên tục nói lên điều gì khi Việt Nam luôn luôn nhẫn nại chịu đựng? Mặc Lâm phỏng vấn Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Bộ Công an để tìm hiểu thêm quan điểm của một chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc.

- Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng báo chí Trung Quốc đang có chiến dịch khiêu khích Việt Nam khi hàng loạt bài viết cho rằng từ đảo Chữ Thập quân đội của họ có thể triển khai tấn công TP-HCM chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ, ông nghĩ thế nào về những luận điệu này và phía sau nó là gì ạ?

Thiếu tướng Lê Văn Cương

- Thiếu tướng Lê Văn Cương: Thật ra mà nói thì đây không có vấn đề gì mới. Sách lược của Trung Quốc chưa kể lịch sử 4.000 năm với họ, chỉ kể từ mùng 1 tháng 10 năm 1949 tới giờ và có lẽ mãi mãi về sau cũng thế thôi.

Điều thứ nhất: Trước hết chúng ta phải nhận diện họ là ai cái đã. Nói theo tiếng Nga Trung Quốc họ là ai? (китай, кто ты?) Đến giờ chúng ta vẫn mơ hồ về chuyện này, vẫn bị một cái bóng ý thức hệ nó đè lên lợi ích dân tộc. Bản chất chính quyền Trung Quốc ở Bắc Kinh hiện nay là một chính quyền theo đường lối dân tộc Sô vanh nước lớn chứ không có phần trăm nào cộng sản cả. Làm gì có cái chuyện cộng sản như ông Marx ông Lenin khuyến khích Trung Nam Hải làm cái trò vớ vẩn như vậy được? Điều thứ nhất là phải nhận thức cho rõ.

Điều thứ hai bản chất của họ là “mềm nắn rắn buông”. Trong 2.500  năm lịch sử khi Việt Nam đứng vững thì Trung Quốc không dám lấn nhưng khi Việt Nam tỏ ra yếu kém, hèn yếu nhu nhược thì nó lấn. Đấy là quy luật mà không chỉ riêng Việt Nam cả thế giới đều thế cả chỗ nào rắn thì bỏ chỗ nào mềm thì rấn tới.

        Tôi có cảm giác rằng lãnh đạo Trung Quốc đã ngửi thấy mùi chúng ta đang lùi và đang lùi thì họ tiến thôi. Không phải bây giờ mà cách đây mười, mười lăm năm đã lùi rồi. Chuyện đe dọa tấn công thành phố Hồ Chí Minh không phải bây giờ mà trước đây họ đã có đưa ra kịch bản đánh và chia đôi Việt Nam từ Nghệ Tỉnh trở ra là một phương án, chia đôi Việt Nam từ Nam Trung Bộ là một phương án và người ta làm rất nhiều rồi chứ không phải bây giờ đâu ạ.

        Các phương án ấy chuẩn bị đầy đủ và được tung ra trên báo Hoàn Cầu và các báo khác để thử xem phản ứng của Việt Nam thế nào. Ở Việt Nam còn khối người còn sợ Trung Quốc, đến giờ phút này vẫn sợ. Cho nên đây là đòn gió nếu mà sợ thì nó làm thật, còn không sợ thì họ sẽ tính lại. Cái trò của Trung Quốc là vừa nắn vừa thăm dò nhưng cái này không có gì mới cả đâu ạ, bản chất Trung Quốc là thế rồi. Điều này tôi muốn nói là không có gì mới.

Điều thứ ba là chúng ta phải phản đối vì chúng ta không phản đối thì họ tiếp tục. Phản đối có nhiều cách. Tờ Hoàn Cầu là báo của đảng chứ không phải là báo lá cải vì vậy Bộ ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương Đảng phải gửi công hàm cho Trung Quốc hỏi họ xem tại sao các ông lại có những việc như vậy? Những việc này đi ngược lại tuyên bố của ông Tập Cận Bình đã ký với ông Trương Tấn Sang vào tháng 6 năm 2013. Nó cũng đi ngược lại tuyên bố của ông Lý Khắc Cường ký với ông Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 10 năm 2013.

        Mấy chuyện này thì phải nói chứ chúng ta im lặng như thế là sao? Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh phải gửi công hàm cho Vương Nghị yêu cầu các ông không nên tung những loại như vậy lên báo chí, làm cho người Việt Nam hiểu sai Trung Quốc và kích động lên chủ nghĩa dân tộc, nó đi ngược lại những điều các ông cam kết. Chúng ta phải phản đối chứ? Tại sao chúng ta không phản đối, thiếu gì cách? Cho nên nếu chúng ta lùi thì họ tiến, cuộc đời chỉ đơn giản như vậy thôi. Có lẽ Trung Quốc đang cảm thấy Việt Nam đang lùi đang sợ họ thì họ lấn chứ có gì đâu!

        Khi Việt Nam đứng vững thì họ không làm gì hết. Chín mươi triệu người chứ không phải 9 trăm ngàn người. Chín mươi triệu người là một khối sắt đá bất khả xâm phạm. Nhưng chín mươi triệu người rời rạc thì không bằng 900 ngàn người cố kết với nhau, quan điểm của tôi không có gì mới cả.

        Sau 44 năm tôi nghiên cứu Trung Quốc thì cái trò này không có gì. Tôi rất buồn vì không biết tại sao chúng ta không có phản ứng. Bây giờ các nhà khoa học có nói đến đâu.

- Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng, về câu hỏi tại sao chúng ta không có bản lĩnh có thể xuất phát từ các vấn đề yếu kém nội tại của chúng ta như vũ khí, kinh tế, tiền bạc và là một nước nhỏ cho nên chính phủ có thể là đang…

- Thiếu tướng Lê Văn Cương: Hoàn toàn không phải, hoàn toàn không phải … Anh nhớ rằng năm 938 Ngô Quyền dành độc lập trong trận Bạch Đằng thì lúc ấy sức mạnh nhà Tống là hai mươi mà Việt Nam chỉ có một. Cái trận Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt năm 1077 khi ấy phương Bắc là ba mươi mà ta chỉ một. Trận Xương Giang Chí Linh năm 1426 Lê Lợi, Nguyễn Trãi khi ấy triều đại rực rỡ nhất Trung Quốc cũng là ba mươi ba với một nhưng Việt Nam cũng vẫn thắng đấy ạ. Đấy là chưa nói trận nhà Thanh năm 1789 với Nguyễn Huệ đánh không còn cái lai quần, khi ấy nhà Đại Thanh đang ghê gớm lắm ta vẫn thắng cơ mà….cho nên không phải! không phải vì ta thiếu vũ khí, ta thiếu người.

        Có lẽ chúng ta thiếu ý chí, có lẽ như vậy. Chính cái này mới quan trọng chứ chạy theo vũ khí thì 1.000 năm nữa Việt Nam vẫn không bì với Trung Quốc được. Phải có ý chí, phải có bản lĩnh chính trị, phải có quyết tâm chính trị. Cái này Trung Quốc mới sợ chứ làm sao trang bị mà đuổi kịp họ? Trung Quốc bây giờ đứng thứ 3 thế giới sau Mỹ và Nga, họ chỉ sợ ý chí của ViệtNam thôi.

        Ý chí người dân quy tụ 90 triệu người trong nước và tám tỷ người trên hành tinh này, đấy là sức mạnh vô địch mà Trung Quốc không thể muốn làm gì thì làm được. Chứ còn mấy cái tàu ngầm thì có đủ sức răn đe gì đâu, không ăn thua. Tất nhiên vẫn phải sắm, vẫn phải có máy bay, tàu ngầm tên lửa nhưng những cái này không có ý nghĩa gì cả. Nếu như 90 triệu người mà rời rạc không quy tụ về một mối thì tất cả vũ khí đều chẳng có ý nghĩa gì hết.

Trung Quốc không bao giờ sợ Việt Nam trang bị những loại tàu ngầm tên lửa vớ vẩn ấy. Họ sợ nhất là 90 triệu người này một khối sắt đá.

- Mặc Lâm: Xin Thiếu tướng một câu hỏi nữa là một trong các biện pháp đối phó với Trung Quốc thì người trong nước cho rằng Việt Nam nên liên minh với các nước trong khu vực để tạo thành một sức mạnh nhằm đối phó với Trung Quốc hữu hiệu hơn, ông thấy ý tưởng này đưa ra vào thời điểm hiện nay có thích hợp hay không?

- Thiếu tướng Lê Văn Cương: Thật ra mà nói thì thế này, cứ chơi bài ngửa, chỉ liên minh với Mỹ thôi chứ ASEAN như một bị khoai tây chẳng ý nghĩa gì đâu. Nga bây giờ cũng đang khốn nạn đừng hy vọng gì ở Nga nữa, lợi ích của họ là tối thượng. Ấn độ thì ốc mang mình ốc chưa nổi nữa thì làm sao? Duy nhất trên hành tinh này chỉ có mình Mỹ thôi. Mở rộng quan hệ hợp tác với Mỹ mở toang cánh cửa ra. Phải tiến tới quan hệ Mỹ Việt mà trên bạn bè dưới liên minh, cứ nói thẳng như thế.

        Trung Quốc phải hiểu thấu người Trung Quốc, Trung Quốc rất sợ Mỹ. Trên hành tinh này Trung Quốc chỉ sợ Mỹ thôi. Bây giờ cho ăn kẹo Bắc Kinh cũng không dám đụng tới Mỹ vì đụng tới Mỹ là tự sát. Bản chất của họ là dọa nạt cưỡng bức những kẻ yếu chứ còn đối với kẻ mạnh như Mỹ thì cho họ ăn kẹo chocolate họ cũng không dám đụng tới Mỹ.

        Bây giờ đặt ra cuộc thảo luận nói thẳng như thế này chứ không dấu diếm gì cả. Chúng ta không  liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc, hoàn toàn không, nhưng cùng tạo một sức mạnh như thế khi cần thiết thì ứng phó với hành động của Trung Quốc. Nói thẳng với Trung Quốc chơi bài ngửa: Việt Nam không liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc nhưng chúng tôi cần sức mạnh của Mỹ để răn đe mọi thế lực ngoại bang muốn xâm lược Việt Nam.

        Nhà nước phải chơi bài ngửa với người dân, công khai và minh bạch. Với thế giới cũng thế.

- Mặc Lâm: Xin cám ơn Thiếu tướng rất nhiều về những bộc bạch này.

Bài trên RFA Tiếng Việt, 29/01/2015

Tuesday

Một nhận xét về cách phát ngôn của những người đứng đầu

 

Những nhận xét sau đây của GS Nguyễn Văn Tuấn nên được xem là lời khuyên cho những ai đang hoặc sẽ đảm đương cương vị lãnh đạo một đơn vị xã hội nào đấy (một cơ quan, một phòng trong một cơ quan, một gia đình, một đơn vị quân đội, một quốc gia…)

IMG_0191

 

GS Nguyễn Văn Tuấn

21-07-2014

Những người lãnh đạo giỏi và có bản lĩnh họ không chỉ nói, mà còn thực hiện những gì họ nói. Ngay cả cách nói, mỗi một lần phát biểu họ đều để lại những câu mà báo chí có trích trích dẫn (quotable words) hay làm cho người nghe phải suy nghĩ vì nó có cái wisdom trong đó. Chẳng hạn như khi nói về những việc làm liên quan đến tai nạn máy bay MH17, thủ tướng Úc nói “Mục tiêu của chúng ta là đảm bảo phẩm giá, sự tôn trọng, và công lí cho người quá cố và người đang sống.” Đó là một câu có thể trích dẫn.

Nhìn lại giới lãnh đạo VN, tôi thấy hình như họ không có cái tư chất về ăn nói của chính khách phương Tây. Chính khách VN quen với đường mòn chữ nghĩa mang đậm bản chất XHCN nên họ chỉ loanh quanh những câu chữ quen thuộc. Họ không nói được cái gì cụ thể, mà chỉ xoay quanh các khẩu hiệu quen thuộc, kiểu như “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.” Đọc qua nhiều bài phát biểu của các lãnh đạo VN tôi nhận ra vài đặc điểm chính (có thể chưa đủ) như sau:

Thứ nhất là tính chung chung, không có một cái gì cụ thể. Có thể nói rằng thói quen phát biểu chung chung là đặc điểm số 1 của chính khách VN, họ không có khả năng nói cái gì cụ thể, tất cả chỉ chung chung, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Ví dụ như phát biểu “Đặc biệt là, tình hình Biển Đông hiện đang diễn biến rất phức tạp, nghiêm trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.” Đọc xong đoạn văn chúng ta chẳng có thông tin nào, mà tất cả chỉ là những rhetoric tầm thường, giống như những khẩu hiệu được nối kết với nhau. Chúng ta cũng không có thêm thông tin, ngoại trừ một chữ rất chung chung là “phức tạp”. Hai chữ “phức tạp” có thể nói là rất phổ biến ở VN, đụng đến cái gì họ không giải thích được, không mô tả cụ thể được, thì họ bèn thay thế bằng hai chữ “phức tạp” mà chẳng ai hiểu gì cả. Cả một đoạn văn 74 chữ, chúng ta không thấy một ý nào cụ thể và không thể trích dẫn bất cứ câu nào.

Thứ hai là dùng nhiều sáo ngữ. Ví dụ tiêu biểu cho đặc điểm này là bài nói chuyện nhân kỉ niệm 40 năm ngày kí Hiệp định Paris: “Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.” Chú ý những chữ “mốc son”, “sử vàng”, “mặt trận ngoại giao”, tất cả đều là những sáo ngữ. Có một loại sáo ngữ khác là chúng mang tính tích cực nhưng không có ý nghĩa thực tế. Vì dụ như bài diễn văn nhân dịp kết thúc một đại hội đảng, có đoạn: “Sau hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa, tư duy lý luận về văn hóa của chúng ta đã có bước phát triển …. Nhiều phong trào văn hóa đem lại hiệu quả thiết thực. Truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng… được phát huy.” Chúng ta chú ý thấy nào là “phát triển”, “phát huy”, “hiệu quả thiết thực”, nhưng vì chúng không có một dữ liệu cụ thể nào nên tất cả chỉ là rỗng tuếch về ý nghĩa. Thật vậy, đọc xong đoạn phát biểu này chúng ta không thấy bất cứ một điểm cụ thể nào để nhớ hay để làm minh hoạ. Chẳng có một ý tưởng nào để đáng nhớ.

Một trong những sáo ngữ chúng ta hay thấy trong các bài phát biểu là “đánh giá cao”. Ví dụ như “tôi cám ơn và đánh giá cao bài phát biểu rất tốt đẹp của Ngài Thủ tướng Hà Lan”, “tôi đánh giá cao và chân thành cám ơn sự hỗ trợ của Chính phủ …”. “Đánh giá cao” hình như là một thuật ngữ đặc thù xã hội chủ nghĩa nó vẫn còn sống sót đến ngày hôm nay. Thoạt đầu nghe qua “đánh giá cao” thì cũng hay hay, nhưng nghĩ kĩ thì thấy câu này chẳng có ý nghĩa gì cả. Thế nào là đánh giá cao, cao cái gì? Tôi thấy nó là một sáo ngữ cực kì vô duyên và vô dụng.

Thứ ba là không có thông tin (lack of information). Có nhiều lãnh đạo VN quen tính nói rất nhiều, nhưng nếu chịu khó xem xét kĩ chúng ta sẽ thấy họ chẳng nói gì cả. “Chẳng nói” vì những gì họ nói ra không có thông tin, tất cả chỉ là những câu chữ lắp ráp vào nhau cho ra những câu văn chứ không có dữ liệu. Do đó, có khi đọc xong một đoạn văn chúng ta chẳng hiểu tác giả muốn nói gì. Chẳng hạn như phát biểu về hiến pháp, ông chủ tịch QH nói: “Chúng tôi cũng hiểu rằng một bộ phận, một số người trong các tầng lớp nhân dân và ngay một số ĐBQH cũng còn ý kiến khác. Tuy nhiên tuyệt đại nhân dân và Quốc hội có thể khẳng định đã đồng tình cao với bản Hiến pháp thông qua lần này. Với quyền năng nhân dân trao cho Quốc hội, chúng ta đã thể hiện được đại đa số nguyện vọng của toàn dân, của Quốc hội với tinh thần làm chủ của nhân dân, chúng ta sẽ biểu quyết theo tinh thần đó.” Câu cú và cấu trúc ý tưởng chẳng đâu vào đâu. Lúc thì quyền năng nhân dân trao cho Quốc hội, lúc thì nguyện vọng của toàn dân, của Quốc hội, lại còn đèo theo một câu “tinh thần làm chủ của nhân dân”. Câu chữ cứ nhảy nhót loanh quanh, chẳng đâu vào đâu, và cuối cùng là chẳng có gì để nói!

Thứ tư là ngôn ngữ khẩu hiệu. Có thể nói rằng rất rất nhiều bài nói chuyện và diễn văn của các lãnh đạo VN chỉ là những khẩu hiệu được lắp ráp vào với nhau. Có những khẩu hiệu quá quen thuộc nên chẳng ai chất vấn tính chính xác của nó. Ví dụ như câu “Trong niềm tự hào, chúng ta thành kính tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới …”, có lẽ chẳng ai để ý đến chữ “danh nhân văn hóa thế giới”. Nếu người bình thường phát biểu như thế thì chắc người ta cũng lắc đầu bỏ qua, nhưng lãnh đạo mà phát biểu như thế thì chẳng có gì sáng tạo, chỉ lặp lại những câu chữ đã có trước đây.

Một loại ngôn ngữ khẩu hiệu khác mang tính tự hào. Tự hào là một “đặc sản” của các vị lãnh đạo VN, đi đâu cũng nghe họ nói về tự hào. Điều này cũng hiểu được, vì làm lãnh đạo thì phải gieo niềm tự hào vào người dân. Nhưng gieo không đúng chỗ và gieo mãi thì có thể trở thành phản tác dụng. Thử đọc bài diễn văn có đoạn “Chúng ta tự hào về đất nước Việt Nam anh hùng, nhân dân Việt Nam anh hùng, tự hào về những con người giản dị bằng những việc làm tốt của mình ở mọi lúc, mọi nơi đã góp phần làm nên vẻ đẹp văn hóa của con người Việt Nam, đất nước Việt Nam; góp phần quyết định để xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh.” Tôi tự hỏi có cần quá nhiều tự hào như thế. Đất nước anh hùng, con người anh hùng, vẻ đẹp văn hoá, v.v. nhưng tại sao đất nước vẫn còn nghèo và phải “ăn xin” hết nơi này đến nơi khác và ăn xin kinh niên, con người vẫn còn đứng dưới hạng trung bình trên thế giới. Thay vì tự ru ngủ là anh hùng và giàu mạnh, tôi nghĩ lãnh đạo phải nói thẳng và nói thật là đất nước vẫn còn rất nghèo, tài nguyên chẳng có gì, và cả nước đang phải đương đầu với ngoại xâm.

Thứ năm là loại ngôn ngữ hành chính hoá. Nếu chú ý kĩ chúng ta sẽ thấy phần lớn những bài nói chuyện, bài diễn văn các lãnh đạo đọc là họ nói với đảng viên, với quan chức, công nhân viên, với quân đội, v.v. chứ không phải nói với người dân. Có lẽ chính vì thế mà ngôn ngữ của họ thường mang tính hành chính. Có những chữ mà hình như họ sử dụng quá nhiều nên chẳng ai để ý ý nghĩa thật của nó, như “Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đối ngoại phải tiếp tục là mặt trận quan trọng góp phần phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc.” Đối với người dân bình thường, ít ai hiểu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế là cái gì. Có thể nói đó là những ngôn ngữ xa lạ đối với người dân.

Những bài diễn văn của các chính khác phương Tây thường rất sinh động, thực tế, và có khi … vui. Khán giả cảm thấy gần gũi với diễn giả. Ngược lại, những bài diễn văn của lãnh đạo VN thường cứng nhắc, công thức, và lúc nào cũng tỏ ra hết sức nghiêm trọng (dù sự việc chẳng có gì nghiêm trọng). Khán giả nghe họ đọc hơn là diễn. Một phần có lẽ do lãnh đạo VN chưa quen với văn hoá hài, và họ cũng muốn tỏ ra là người quan trọng. Dù gì đi nữa thì những bài nói chuyện của lãnh đạo VN rất khó gần với người dân do ngôn ngữ cứng đơ và kém thân thiện, và cách họ triển khai bài nói chuyện quá xa rời công chúng.

Dĩ nhiên, những đặc điểm này không phải là độc quyền của các lãnh đạo VN, mà thỉnh thoảng các chính khách phương Tây cũng vướng phải. Khi họ vướng phải, người dân biết vị chính khách đó có vấn đề, hoặc là không nắm vững vấn đề, hoặc là lúng túng. Vì không nắm vững vấn đề nên họ nói chung chung. Có người nghĩ nói chung chung là nói “đa tầng”, nhưng thật ra đó chỉ là cách nguỵ biện thô thiển. VN nói về hội nhập quốc tế, nhưng với loại ngôn ngữ đặc thù XHCN trên đây, tôi nghĩ các lãnh đạo VN sẽ rất khó gần với lãnh đạo thuộc thế giới văn minh.

Nguồn: FB Nguyen Tuan

LITERATURE ON NGO–STATE RELATIONS IN ASIA

(Kerkvliet 1995, Malarney 1996, Ma 2002, Hsu 2008, Marshall 2009, Gainsborough 2010, Heurlin 2010, Hsu 2010)

Gainsborough, M. (2010). "Present but not Powerful: Neoliberalism, the State, and Development in Vietnam." Globalizations 7(4): 475-488.

Through a case study of Vietnam, this paper explores what happens to neoliberal ideas about development when they encounter the very different political and cultural context of a developing country. The paper argues that although much scholarship tends implicitly or explicitly to emphasise the very great power of neoliberal institutions in our world today, an analysis of continuity and change in Vietnam during two decades of extensive engagement with neoliberal actors suggests that the influence of neoliberalism on the working of the Vietnamese state has been relatively small. The paper seeks both to document and explain this through an account which is attentive to both structure and agency and which in turn sheds new light on the nature of power in our world.

Heurlin, C. (2010). "Governing Civil Society: The Political Logic of NGO-State Relations Under Dictatorship." Voluntas: International Journal of Voluntary and Nonprofit Organizations 21(2): 220-239.

This paper attempts to take the first steps toward developing a theory of non-governmental organizations (NGO)-state relations under dictatorship. Drawing on evidence from East Asia, the author argues that dictatorships typically employ one of two strategies in attempting to govern NGOs. First, some dictatorships follow a corporatist strategy, in which business associations, development, and social welfare organizations are co-opted into the state and controlled through a variety of strategies. Second, other dictatorships pursue an exclusionary strategy in which NGOs are marginalized and replaced with state institutions. Variation in the strategy chosen may be explained by differing levels of elite competition and the type of development strategy. Single-party states tend to regulate elite conflicts better and thus often choose corporatist strategies. In personalist regimes dictators tend to fear the organizational and mobilizational potential of NGOs and thus tend to pursue exclusionary strategies. This choice, however, is conditioned by the development strategy employed, as socialist development strategies reduce the incentives to allow NGOs.

Hsu, C. (2010). "Beyond Civil Society: An Organizational Perspective on State–NGO Relations in the People's Republic of China." Journal of Civil Society 6(3): 259-277.

In the last two decades, the People's Republic of China has witnessed an explosion of NGOs. What will the implications be for state?society relations? This article, drawing upon research conducted at seven Chinese NGOs, critiques two approaches to analysing this problem: the civil society framework and the privatization perspective. It then proffers a third way: an approach based on organizational analysis. Both the civil society and privatization perspectives assume a zero-sum game between a monolithic state and NGOs/citizens. Yet empirical evidence reveals that Chinese NGOs are often much more interested in building alliances with state agencies and actors than in autonomy from the government. From an organizational perspective, this makes sense. As organizations, both NGOs and state agencies need to ensure a constant supply of necessary resources for the firm to survive, and their strategies for achieving this goal will be constrained by their actors' own institutional experiences and the cultural frameworks extant in their society. Alliances between Chinese NGOs and state agencies can help both types of organizations secure necessary resources and gain legitimacy.

Hsu, C. L. (2008). "‘Rehabilitating Charity’ in China: The Case of Project Hope and the Rise of Non-Profit Organizations." Journal of Civil Society 4(2): 81-96.

Beginning in the 1990s, the People's Republic of China has experienced explosive growth in the number of non-governmental organizations. This article examines one of the earliest and most influential Chinese NGOs, Project Hope, a charitable organization which solicits donations to help poor rural children stay in school. The success of Project Hope and the subsequent growth of the non-profit sector are surprising given that China arguably has no history of an organizational form like the Western donative-style charity. As such, this case offers a rare opportunity to examine the rise of a new organizational form. New institutionalist and social capital theoretical approaches will be used to analyse the social mechanisms underlying practice of donative-style charity. Chinese cultural practices of giving to the needy in the premodern era and under Mao Zedong's socialist state (1949?1978) will be explicated to reveal the resources and constraints emerging Chinese charities faced in the post-socialist era. This article focuses on one problem that China's first Western-style charities had to address: how to establish the practice of voluntary giving to non-governmental organizations. It examines two of Project Hope's strategies and their consequences: (1) blurring the distinction between charitable organizations and the state and (2) building personal relationships between donors and recipients.

Kerkvliet, B. J. T. (1995). "Village-State Relations in Vietnam: The Effect of Everyday Politics on Decollectivization." The Journal of Asian Studies 54(2): 396-418.

Why, since 1988, has the Vietnamese government reversed its commitment to collective farming and permitted the revival of family farming? BENEDICT KERKVLIET rejects the obvious explanation-that reversal followed naturally from the post-1986 policy of reform (d oi-moi) or that it merely mimicked Chinese policies. He proposes, as an alternative, that the Vietnamese government has responded with various kinds of accommodations since the mid-1970s to growing popular discontent with its agricultural policies. Borrowing a concept from Brantly Womack, Kerkvliet suggests that Communist parties must be "mass-regarding" both to establish their rule and to maintain it. He links this idea with James Scott's emphasis on the power of everyday peasant resistance to conclude that the Vietnamese Communist Party was responding to popular pressure from below. Thus, Kerkvliet finds that standard characterizations that represent the current regime in Vietnam as a "dominating state" or one that rules through "mobilization authoritarianism" overlook the existence of strong local social pressures that have the capacity for low-level resistance to government policy. Moreover, such characterizations also do not take into account that the Vietnamese state has displayed a long-term concern with ensuring that its policies are acceptable among the peasantry.

Ma, Q. (2002). "The Governance of NGOs in China since 1978: How Much Autonomy?" Nonprofit and Voluntary Sector Quarterly 31(3): 305-328.

Does the surge of nongovernmental organizations (NGOs) in China indicate a shift in power away from the party-state and the emergence of a civil society? In an attempt to shed light on the relationship between the state and the NGOs, this article examines the aims of official NGO policy and its influence on the growth patterns of NGOs. The discussion is divided into three sections. The first section analyzes the NGO concept in China and the features of official policy. The second and third sections address two models of Chinese NGOs. The study concludes that even as the Chinese government remains the most decisive component in the development of NGOs, the state is withdrawing from responsibilities toward society. The interactive and mutually dependent relations between the government and NGOs indicate the continuing power of the party-state as well as the decline in its capacity to control the growth of organizations.

Malarney, S. K. (1996). "The Limits of "State Functionalism" and the Reconstruction of Funerary Ritual in Contemporary Northern Vietnam." American Ethnologist 23(3): 540-560.

In this article I examine the history and consequences of the Vietnamese Communist Party's attempt to reform funerary rituals in the post-1954 period. By examining the mixed results of the campaign, I argue that "state functionalism," a phenomenon defined as the use of ritual by state officials to advance official objectives and ideology, cannot succeed in controlling all meanings and values mobilized in ritual. Official ideology, however, does not remain divorced from the values and ideals participants bring to reformed ritual practices. Instead, it enters into a transformative dialogue with its historical antecedents, producing a set of rituals, and ideas about ritual, different from what the cadres intended and what they replaced. [funerary ritual, Vietnam, ritual change, culture and ideology, socialist ritual]

Marshall, V.-N. (2009). "Tools of Empire? Vietnamese Catholics in South Vietnam." from http://id.erudit.org/iderudit/044402ar.

This article examines the social and political activities of Vietnamese Roman Catholics in South Vietnam in the period from the 1950s to the 1970s. The Catholics participation in the public sphere, ranging from joining humanitarian organizations to organizing street protests, suggests that they were highly organized and proactive in trying to change their social and political environment. While Catholics held some political views and goals in common with the South Vietnamese and the United States governments, they pursued their own objectives, engaged in local and national politics, critiqued government policy, and maintained an important degree of independence from state power and influence.

LITERATURE ON CHARITY IN VIETNAM

LITERATURE ON CHARITY IN VIETNAM

Barzin, Y. (2012). "The role of NGOs in rural Vietnam: a case study and critique." from http://www.biomedcentral.com/1753-6561/6/S4/P54.

No abstract available.

Bui, T. H. (2013). "The development of civil society and dynamics of governance in Vietnam's one party rule." Global Change, Peace & Security 25(1): 77-93.

Civil society has been in operation under one-party rule in Vietnam in the years since the Doi Moi (renewal) in 1986. Despite the continued monopoly of political power by the Communist Party of Vietnam (CPV), civil society has been gradually expanded and developed. The paper reviews recent arguments in the political science and area studies literature on the emergence of civil society in Vietnam's Doi Moi period over the past two decades, to comment on the dynamics of the relationship between civil society and the party-state, problematizing the development of civil society in the context of a one-party-dominated state. At a certain level, civil society has been ?tolerated?, ?endorsed?, or recognized by the party state to fill a gap in the governance network. In practice, it has never been an easy project for civil society to make its way into Vietnamese society given the party-state's Gramscian concession to maintain the existing hegemony.

Center for Community Development (2012). Memorandum: Fundraising activities by Not-for-profit organisations under Vietnamese law. Ho Chi Minh City, Centre of community development.

Center for Community Development (2012). Philanthropic attitudes & sentiments in Vietnam today. Ho Chi Minh City, LIN - Center for Community Development.

Dalton, R. J. and N.-N. T. Ong (2005). "Civil society and social capital in Vietnam." Modernization and Social Change in Vietnam. Hamburg, Institut für Asienkunde.

Gillespie, J. and N. Penelope (2005). Asian socialism & legal change : the dynamics of Vietnamese and Chinese reform. Canberra ACT, Australian National University E Press : Asia Pacific Press.

Goodkind, D. (1996). "State Agendas, Local Sentiments: Vietnamese Wedding Practices amidst Socialist Transformations." Social Forces 75(2): 717-742.

This article examines how Vietnamese citizens responded to state exhortations to devalue and simplify marital exchanges. Such exhortations reflected Engels' belief ([1884] 1972) that the success of revolutionary socialism was contingent upon a transformation of marital institutions. Vietnam, a "weak" state with an otherwise home-grown socialist revolution, announced decrees to this end in the North after national partition in 1954 and in the South following political reunification in 1975. This article employs data from the author's 1993 field survey in a Northern and Southern province to track temporal changes in a variety of Vietnamese wedding practices. The results suggest that the socialist marriage pattern took hold in the Northern province only. Findings are linked to historical events, modernization, state-society bargaining processes, as well as the more general successes and failures of revolutionary socialism in Vietnam.

Gray, M. L. (1999). "Creating civil society? : the emergence of NGOs in Vietnam." Development and change. 304: 693-713.

Hamm, B. (2012). "Corporate Social Responsibility in Vietnam: Integration or mere adaptation?" Pacific News 38(July/August).

Heurlin, C. (2010). "Governing Civil Society: The Political Logic of NGO-State Relations Under Dictatorship." Voluntas: International Journal of Voluntary and Nonprofit Organizations 21(2): 220-239.

This paper attempts to take the first steps toward developing a theory of non-governmental organizations (NGO)-state relations under dictatorship. Drawing on evidence from East Asia, the author argues that dictatorships typically employ one of two strategies in attempting to govern NGOs. First, some dictatorships follow a corporatist strategy, in which business associations, development, and social welfare organizations are co-opted into the state and controlled through a variety of strategies. Second, other dictatorships pursue an exclusionary strategy in which NGOs are marginalized and replaced with state institutions. Variation in the strategy chosen may be explained by differing levels of elite competition and the type of development strategy. Single-party states tend to regulate elite conflicts better and thus often choose corporatist strategies. In personalist regimes dictators tend to fear the organizational and mobilizational potential of NGOs and thus tend to pursue exclusionary strategies. This choice, however, is conditioned by the development strategy employed, as socialist development strategies reduce the incentives to allow NGOs.

Hugman, R., et al. (2009). "Developing Social Work in Vietnam: Issues in Professional Education." Social Work Education 28(2): 177-189.

The growth of professional social work in Vietnam took a major step forward in 2004, with the approval of a new national curriculum for universities to teach degrees in social work. This article briefly examines the history of social work in Vietnam to provide background to these developments and then examines key questions facing Vietnamese social work education. These include issues of how professional education for social work is structured and integrated within universities, how social work educators are appropriately trained and how practicum opportunities are developed in a context where a formal profession of social work is still emerging. It is argued that while Vietnamese social work education must be understood as part of the global range of approaches to professional training, it is also vital for Vietnam to engage with the process of developing an authentic Vietnamese approach.

Kauffman, C. J. (2005). "Politics, Programs, and Protests: Catholic Relief Services in Vietnam, 1954-1975." The Catholic Historical Review The Catholic Historical Review 91(2): vi, 223-250.

Marshall, V.-N. (2009). "Tools of Empire? Vietnamese Catholics in South Vietnam." from http://id.erudit.org/iderudit/044402ar.

This article examines the social and political activities of Vietnamese Roman Catholics in South Vietnam in the period from the 1950s to the 1970s. The Catholics participation in the public sphere, ranging from joining humanitarian organizations to organizing street protests, suggests that they were highly organized and proactive in trying to change their social and political environment. While Catholics held some political views and goals in common with the South Vietnamese and the United States governments, they pursued their own objectives, engaged in local and national politics, critiqued government policy, and maintained an important degree of independence from state power and influence.

Nguyen Vo Thuc Quyen (2013). Corporate Social Responsibility Implementation by Vietnamese Enterprises : case: Vinamilk Corp. & Kinh Do Corp. International Business. Lahti, Lahden ammattikorkeakoulu. Bachelor: 63.

While the application of corporate social responsibility (CSR) into business for sustainable development is becoming a popular trend in developed countries, this issue is considered relatively new to developing countries, particularly in Vietnam. In addition, CSR studies conducted in Vietnam remain very scarce. Most of the enterprises do not have adequate understandings of CSRs aspects, but the meaning of philanthropy. Hence, the thesis aims at examining the current understandings and implementation of CSR by Vietnamese enterprise. The theoretical framework provides readers an overview of CSR issue, including definition, three CSR models, and followed by an analysis of CSR in developing countries. The empirical part covers two large-listed company case studies as Vinamilk Corp. and Kinh Do Corp.The case studies present several CSR practices in four recent years, from 2009-2012, and reveal the achieved results.Using the inductive reasoning, together with the Qualitative research method, the thesis focuses on content analysis based on companies reports, websites, personal observation, and half-structured interviews with staff from two companies. In conclusion, the collected data from case studies are compared and collated to research question answers. The study findings state that Vietnamese enterprises have a greater perception of sustainable development in implementing corporate social responsibility practices.

Oanh, N. T. (2002). "Historical development and characteristics of social work in today's Vietnam." International Journal of Social Welfare 11(1): 84-91.

Sidel, M. (1997). "The emergence of a voluntary sector and philanthropy in Vietnam: functions, legal regulation and prospects for the future." Voluntas: International Journal of Voluntary and Nonprofit Organizations 8(3): 283-302.

A significant number and wide range of Vietnamese non-profit and voluntary organisations have developed since Vietnam embarked on a programme of economic reform in late 1986. Philanthropy has begun to grow as well, albeit more slowly. The non-profit and voluntary sector and the state, each face important challenges as development of the sector accelerates. The state has sought both to encourage growth of non-profit, voluntary and philanthropic institutions, but also to control the pace and directions of that growth. Those dual aims are reflected in the state's regulation of the sector since the mid-1980s. This article provides detailed information on the development of the non-profit sector in Vietnam. It examines some common problems many of the new non-profits and voluntary organisations face and discusses the rapidly changing environment for philanthropy in Vietnam. The article also reviews the developing legal environment for non-profits and philanthropy, compares the situation in Vietnam to other countries in transition, and situates the functions of the non-profit sector in Vietnam in the context of the emerging scholarly literature on functions and models of the non-profit sector and government/non-profit relations.

Sidel, M. (2007). Vietnamese-American Diaspora Philanthropy to Vietnam. Harvard, The Philanthropic Initiative, Inc & The Global Equity Inititative, Harvard University.

Analyzes giving by the Vietnamese diaspora in the United States back to Vietnam. Outlines the 1986-2006 evolution of Vietnamese-American philanthropy from individual to organized efforts; challenges; and recommendations for expanding scale and impact.

Sidel, M. (2008). Law and the regulation of civil society: nonprofit organizations, philanthropy, grassroots organizations, and the state. Law and society in Vietnam: The transition from Socialism in Comparative Perspective. M. Sidel. Cambridge, Cambridge University Press: 141-165.

A unique analysis of the struggle to build a rule of law in one of the world's most dynamic and vibrant nations - a socialist state that is seeking to build a market economy while struggling to pursue an ethos of social equality and opportunity. It addresses constitutional change, the assertion of constitutional claims by citizens, the formation of a strong civil society and non-profit sector, the emergence of economic law and the battles over who is benefited by the new economic regulation, labour law and the protection of migrant and export labour, the rise of lawyers and public interest law, and other key topics. Alongside other countries, comparisons are made to parallel developments in another transforming socialist state, the People's Republic of China.

The Asia Foundation (2011). Đóng góp từ thiện tại Việt Nam. Hà Nội, Vietnam Asia Pacìic Center & The Asia Foundation.

UNDP (2007). Khỏa lấp sự cách biệt: Xã hội dân sự mới nổi ở Việt Nam. Hà Nội, UNDP, VUSTA, SNV.

Thursday

Bánh chưng: một tìm hiểu về cội nguồn dân tộc Việt

Hà Văn Thùy – Đỗ Ngọc Thành

Nghìn vạn năm nay chúng sinh Việt vẫn làm, vẫn ăn bánh chưng hàng năm thậm chí hàng ngày. Cả ao mực đã đổ ra để tán để bình về món ăn quốc hồn quốc túy. Ai cũng nghĩ mình đã hiểu và không còn điều gì đáng nói về chiếc bánh xưa như Trái đất! Thử tìm hiểu về chiếc bánh chưng vuông của tác giả Nguyễn Trung Thuần xuất hiện trước Tết quả đã mở rộng tầm mắt cho bạn đọc. Rất cảm ơn tác giả, nhưng thấy bài viết chưa “đã”, chúng tôi mạo muội bàn thêm.

Muốn hiểu tới tận cùng về chiếc bánh chưng không thể không trả lời hai câu hỏi: 1. Chủ nhân chiếc bánh chưng là ai? Và 2. Chiếc bánh chưng được sáng tạo như thế nào?

I. Ai là chủ nhân của bánh chưng?

Trước hết, cần hiểu rõ, thế nào là bánh chưng? Nhờ bài viết của ông Nguyễn Trung Thuần, ta biết cái tên khai sinh được viết trên giấy đầu tiên của bánh chưng là 裹蒸. Từ điển phiên là “quả chưng”, “lõa, khỏa chưng” và được giải nghĩa là loại bánh được gói dùng cho lễ tế chưng, lễ tế mùa đông. Như vậy, bánh chưng theo văn tự được ghi sớm nhất là loại bánh dùng lá cây, gói gạo nếp, đậu và thịt lợn đem luộc lên làm vật cúng trong lễ tế mùa đông, là thứ bánh để cúng trong dịp Tết. Tuy nhiên, đấy chỉ là chữ nghĩa trong từ điển. Mà từ thì sinh ra trước khi có điển nên những từ không được điển chế đã gây khó cho những ai chỉ biết từ điển! Nếu lục tìm trong tiếng Việt cổ thì quả cũng từng có nghĩa là bánh. Dân gian Việt quen nóibánh trái. Đó là từ xưa, nay thường được hiểu là bánh và trái cây. Nhưng nghĩa nguyên thủy của từ ghép bánh trái cho thấy: bánh cũng từng được gọi là trái, là quả! Câu ca dao Tay cầm bầu rượu quả nem là một chứng cứ. Quả nem là chiếc nem hình bánh ú, cũng có nghĩa là bánh nem. Từ cái gốc gác xa xưa ấy, ta khám phá ra điều bí mật vô cùng thú vị: quả chưng chính là bánh chưng tiếng Việt! Điều này có nghĩa là, người Việt cổ trên đất Trung Hoa làm ra thứ bánh gọi là bánh chưng. Nhưng rồi đất Việt bị chiếm, người Việt trở thành người Tàu, biết bao tài sản Việt biến thành của Tàu. Tuy nhiên, cái tên cúng cơm của chiếc bánh vẫn được giữ nguyên. Không chỉ giữ nguyên từ Việt cổ: quả là bánh mà còn giữ nguyên văn phạm Việt theo lối nói chính trước phụ sau! Vậy là dù cho hàng nghìn năm ra sức đồng hóa thì các thày Tàu cũng không thể biến chiếc bánh chưng tiếng Việt thànhchưng bính Tàu!

Với ý nghĩa như vậy thì loại bánh hình bánh ú của dân Triệu Hưng, bánh đòn, bánh tày, bánh tét, Tapeng arua của người Arem và bánh vuông của người Kinh đều làbánh chưng. Từ “chưng” ở đây không phải động từ chưng cất mà là lễ tế cuối năm, tức cúng tế trong dịp Tết. Từ Tét là do đọc trại của Tết, càng chứng tỏ loại bánh làm vào dịp Tết. Một thực tế là, không chỉ người Kinh, người Triệu Khánh Quảng Đông, người Arem làm bánh chưng, mà trên Hoa lục, từ miền đất của nước Sở, nước Ngô, nước Việt xưa tận Sơn Đông, Động Đình Hồ xuống phương Nam, Quảng Đông, Phúc Kiến, Vân Nam, Ba Thục… đâu đâu cũng có bánh chưng.

Bánh chưng có từ bao giờ? Khó biết đích xác nhưng sách còn ghi, khi Khuất Nguyên gieo mình xuống sông Mịch La (năm 278 TCN), người nước Sở thương tiếc bằng cách thả bánh chưng xuống sông để cá ăn bánh mà đừng rỉa xác ông! Sau này, hàng năm vào dịp giỗ ông, người ta thả bánh xuống ao xuống giếng để tưởng niệm. Như vậy, chiếc bánh chưng có từ xa xưa và quen thuộc với phần lớn dân cư sống trên đất Trung Quốc.

Một câu hỏi: dân Trung Quốc là ai? Trong bài viết của mình, tác giả Nguyễn Trung Thuần dẫn tư liệu: “Ở huyện Khai Phong của Triệu Khánh từng phát hiện được một hóa thạch răng người cách nay 14,8 vạn năm, được giới khảo cổ cho là tổ tiên sớm nhất của người Lĩnh Nam.” Đấy là một trong những sai lầm chết người của khoa học thế kỷ trước, khi cho rằng người Vượn Bắc Kinh Homo erectus pekinensis sống 600.000 năm trước ở Chu Khẩu Điếm là tổ tiên người Trung Hoa. Sang thế kỷ này, di truyền học phát hiện, người Bắc Kinh thuộc loài tiền nhiệm của chúng ta, biến mất khỏi châu Á 250.000 năm trước. Chúng ta hôm nay là Người Khôn ngoan Homo sapiens, tổ tiên xuất hiện ở châu Phi 180.000 năm trước và 70.000 năm cách nay đã men theo bờ biển Ấn Độ Dương đặt bước chân đầu tiên trên đất Việt Nam của lục địa Đông Á. Sau đó, từ Việt Nam, con người đông dần và 40.000 năm trước tiến lên khai phá vùng đất mênh mông phía bắc. 4000 năm TCN, trên đất Đông Á, người Việt chiếm khoảng 65% nhân số thế giới và xây dựng nền văn minh nông nghiệp rực rỡ, trong đó có văn hóa bánh chưng.

image001

       Một cặp bánh chưng Việt Nam

image003

    Bánh chưng Triệu Khánh

image005

Bánh chưng Quảng Đông (广东裹蒸粽)

II. Bánh chưng được sáng tạo ra sao?

Có lẽ, chiếc bánh đầu tiên mà người Việt làm ra là bánh… đất! Điều này được ghi lại trong Hậu Hán thư: “Dân Giao Chỉ lấy đất sét làm bánh đem phơi khô, coi là vật quý, dùng trong cưới hỏi.” Vài ba chục năm trước, nhiều phiên chợ ở Phú Thọ còn bán bánh đất. Cũng thời đó, ở Thái Bình, nhiều bà già lấy những viên ngói nung non lửa cho con dâu ốm nghén ăn, gọi là “ăn rở.” Sau này khoa học khám phá ra đó là việc làm cực kỳ khôn ngoan vì bổ sung nguyên tố vi lượng, khoáng chất cho thai nhi.

Không ai biết chắc chiếc bánh chưng được làm từ khi nào. Chúng tôi đồ rằng, tiền thân của nó là những thỏi cơm lam được nấu trong ống tre. Người Việt trồng lúa trước hết ở trên cạn, gọi là lúa nương, lúa lốc mà phần nhiều là lúa nếp. Gạo bỏ vào ống tre, cho nước vừa đủ rồi nướng trong lửa than. Khi cơm chín, chẻ ống tre ra, được những thỏi cơm lam thơm ngon.

Một ngày đẹp trời, có ai đó nảy sáng kiến cho thêm hạt đậu, hạt lạc rồi thịt lợn vào ống tre cùng với gạo. Lúc này sản phẩm thu được không còn là đòn cơm lam bình thường mà là một món ăn kỳ diệu. Có lẽ từ lúc này, thay cho từ cơm lam, người ta gọi là bánh! Khi phát minh ra đồ gốm để đun nấu, con người nảy sáng kiến dùng lá gói gạo (đã ngâm nước) với đậu, thịt lợn thành đòn dài như hình chiếc ống tre, cho vào nồi nấu. Chiếc bánh hình khúc tre ra đời! Loại thức ăn trân quý như vậy không dễ có hằng ngày nên chỉ có thể làm vào dịp lễ lớn nhất trong năm là lễ tế mùa đông, tế chưng, còn gọi là Tết. Do vậy, chiếc bánh được gọi là bánh chưng và cũng có tên là bánh tét, do đọc trại của từ “Tết”.

Chiếc bánh hình trụ của ống tre gợi lên hình tượng sinh thực khí nam, một vật thờ linh thiêng của người Việt cổ. Lúc này người ta nhận ra, chỉ có sinh thực khí nam thì chưa đủ! Và do bánh được gói bằng lá, không còn bị hạn chế bởi khuôn khổ chiếc ống tre nên người ta gói những chiếc bánh hình vú tượng trưng cho sinh thực khí nữ. Và trên bàn thờ là cặp bánh ú (vú, bú) với đòn bánh tét nằm giữa, vừa là biểu trưng sự sung túc của nghề nông vừa thể hiện tín ngưỡng phồn thực!

Cũng phải rất lâu sau, giữa thế giới của bánh ú, bánh tày, bánh tét, tại kinh đô Việt Trì, theo truyền thuyết, chàng Lang Liêu sáng tạo ra chiếc bánh hình vuông. Vẫn là chiếc bánh chưng truyền thống trời che đất chở muôn vật bên trong nhưng chiếc bánh vuông là bước nhảy vọt không chỉ về thẩm mỹ mà còn về trí tuệ. Chiếc bánh chỉ nặng khoảng 500 – 600 gram và được buộc bằng bốn chiếc lạt: hai dọc hai ngang. Bốn chiếc lạt trên hình vuông như trang giấy xanh tạo thành chữ Tỉnh. Đấy là hình tượng nhắc lại thuở xa xưa khi tổ tiên mở cõi: dân chúng chung tay vỡ mảnh đất hình vuông rồi chia đều làm chín phần. Tám nhà cày cấy tám phần xung quanh và chung nhau chăm sóc phần ruộng ở giữa, lấy hoa lợi nộp vua. Cách chia đất này thể hiện triết lý bình sản của người Việt, đảm bảo tài sản đồng đều giữa các thành viên, cái nền bền vững của hạnh phúc cộng đồng. Sau này, việc chia ruộng chữ Tỉnh được chuyển hóa thành công điền. Công điền là ruộng của làng, vua không có quyền đụng tới, ba năm một lần chia cho người nghèo cày cấy.

Bốn chiếc lạt còn chia bề mặt chiếc bánh thành Lạc thư, Cửu cung bát quái Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài và Trung ương, cội nguồn của kinh Dịch. Đó cũng là ma phương đồ bậc ba mà tổng các con số của các ô theo chiều ngang, dọc và chéo đều là 15: đúng bằng số bộ của nước Văn Lang thời Vua Hùng! Chắc chắn, từ đất tổ Việt Trì, chiếc bánh vuông lan tỏa ra nhiều vùng Lạc Việt khác, trong đó có Quảng Đông mà ngày nay người Hoa gốc Việt ở đây vẫn giữ được!

image006

Lạc thư

image007

Cửu cung & ma phương bậc ba trên bánh chưng

Chiếc bánh vuông tượng trưng cho phái nam là sáng tạo mỹ mãn. Nhưng như vậy chưa đủ vì có nam mà không nữ chửa nên xuân! Thay cho bánh ú quen thuộc, chiếc bánh trắng như ngọc, dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên ra đời… Cặp bánh chưng bánh dầy được dâng vua cha, cúng tổ tiên và trời đất, sang trọng hơn, thanh nhã hơn!

Câu chuyện bánh chưng còn cho ta biết quá trình hình thành ngôn ngữ Trung Hoa. Người Việt từ xưa trên toàn Đông Á gọi chiếc lá để gói bánh chưng là lá dong. Khoảng 4000-5000 năm trước, khi sáng tạo chữ vuông, dựa theo âm “dong” tiếng Việt, người Quảng Đông gọi lá dong là diệp đông 叶冬. Nhưng từ thời Tần Hán, người phương Bắc xâm chiếm Nam Dương Tử, áp đặt dân Giang Nam nói theo cách nói phương Bắc, lá dong 叶冬 biến thành 冬叶 dong lá. Tới thời Đường, chuyển hóa theo tiếng nói của kinh đô Tràng An thành đông diệp. Nhưng sau này, tiếng Trung Quốc biến đổi thành tiếng Bắc Kinh pinyin là dongye

Ở đây có vấn đề dễ gây lấn cấn: bánh chưng vuông tượng đất “địa phương 地方” là âm. Bánh dầy tượng trời “thiên viên 天圆” là dương! Nhưng trong truyền thống, người Việt quan niệm “nam văn, nữ thị.” Văn vốn là chữ “vuông”, trong giáp cốt văn lúc đầu được vẽ hình vuông. Sau cách điệu thành hai đường chéo tượng trưng cho hình vuông (文). Nhưng trong câu chuyện này, bánh chưng tượng trưng cho phái nam trở thành âm còn bánh dầy tượng trưng cho phái nữ lại là dương! Giải thích sao về sự trái ngược này? Không khó! Bởi lẽ đã có khi người xưa nói: “Ông giăng mà lấy bà giời!” Phải chăng đó cũng là cái “lý” của người Việt: không có cái gì tuyệt đối dương hoặc tuyệt đối âm! Cồng là bà. Lệnh là ông. Nhưng có lúc “lệnh ông không bằng cồng bà!” Cũng vậy, Trời là cha là dương nhưng có lúc lại trở thành âm. Còn Đất là mẹ, là âm nhưng có lúc lại thành dương?!

Ông Nguyễn Trung Thuần dẫn lời Giáo sư trần Quốc Vượng cho rằng bánh chưng cổ xưa không phải hình vuông là chính xác. Nhưng Giáo sư của chúng ta đã sai khi nói:

“Bánh chưng vuông tượng đất, bánh dày tròn tượng trời là một triết lý rất Trung Hoa nhưng triết lý ấy thực ra còn chưa có ở đời Hán (HVT tô đậm). Vậy, làm gì có chuyện “bánh chưng vuông tượng trời” ra đời ở Việt Nam vào thời Hùng Vương? Ở Cổ Loa, thủ đô của nước Âu Lạc, nơi chỉ cách trung tâm Hà Nội có 17 km mà bây giờ vẫn có rất ít bánh chưng vuông. Họ thường gói bánh chưng tròn, còn gọi là bánh tét hay là bánh tày”

Sự thực, bánh chưng vuông tượng đất, bánh dầy tròn tượng trời không phải triết lý Trung Hoa mà là triết lý của tộc Việt từ xa xưa, trước cả thời Phục Hy 4800 năm TCN, trong thiên viên địa phương của kinh Dịch. Còn việc ở Cổ Loa ít gói bánh vuông chỉ là một thói quen: người dân ưa gắn bó với với tục xưa của mình!

III. Đâu là trung tâm?

Hàng nghìn năm nay, các học giả đại Hán cho rằng, Trung Nguyên Hoa Hạ là trung tâm, tỏa chiếu ánh sáng văn minh khai hóa các dân man di tứ cận! Sở dĩ nói như vậy vì họ không hiểu rằng, Trung Nguyên xưa chính là đất Trong Nguồn của người Dương Việt. Sau khi chiếm đất này, người Hoa Hạ đã chuyển chữ Trong thành Trung, Nguồn thành Nguyên để xóa dấu vết! Tuy tổ tiên Việt từ xa xưa di chúc cho con cháu: Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra thì chỉ tới nay người Việt mới biết viết hoa chữ Trong Nguồn và nhận ra đó là đất cũ của tổ tiên!

Tuy vậy kẻ ăn vụng không phải bao giờ cũng chùi được mép: theo văn phạm Trung Hoa thì địa danh ấy phải là Nguyên Trung mới đúng! Đằng này lại vẫn là Trung Nguyên –Trong Nguồn theo cách nói Việt! Không chỉ địa danh này mà hàng loạt địa danh khác cùng chung số phận, trái ngược cách nói Hoa: Sơn Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc… Sở dĩ vậy vì lẽ đơn giản: đất lấy được nhưng tên đất đã ăn sâu trong lòng người thì không dễ đổi!

Cũng ánh sáng khoa học thế kỷ mới cho thấy:

1. Người Việt Nam có đa dạng di truyền cao nhất trong các sắc dân Đông Á, có nghĩa là người Việt là cội nguồn của dân cư Đông Á. Đất Việt Nam là nơi phát tích của các dân tộc Đông Á.

2. Từ năm 1898, nhà ngữ học người Pháp H. Frey đã cho xuất bản cuốn sách L’annamite, mère des langues; communauté d’origine des races celtiques, sémitiques, soudanaises et de l’Indo-Chine; Tiếng Việt Nam là mẹ các ngữ; cộng đồng có nguồn gốc của các dân tộc Celtic, Do Thái, Sudan và Đông Dương.

3. Từ khoảng 18.000 năm trước, người Việt sáng tạo công cụ đá mới Hòa Bình rồi mang theo bước chân thiên di ra khắp châu Á, tới đất Mông Cổ và tạo dựng văn hóa Ngưỡng Thiều, niềm tự hào của người Hoa Hạ.

4. Người Việt thuần hóa cây kê và cây lúa rồi đưa lên lưu vực Dương Tử, Hoàng Hà.

5. Đồ đồng được làm ra sớm nhất ở văn hóa Phùng Nguyên rồi lan tỏa ra khắp Hoa lục cùng Đông Nam Á. Trống đồng cũng được chế tác trên khắp giang sơn Việt tộc, từ địa bàn nước Sở cũ tới Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và vùng Caren của nước Mianmar hôm nay. Nhưng trống đồng Đông Sơn của người Lạc Việt, tộc người đa số, từng lãnh đạo dân cư Đông Á về xã hội và ngôn ngữ là tinh xảo nhất. Không chỉ đạt mức thẩm mỹ siêu tuyệt mà còn ký thác trong đó những biểu trưng sâu thẳm của minh triết Việt.

6. Chỗ nào có người Việt, nơi ấy có bánh chưng. Tuy nhiên, chiếc bánh vuông Lạc Việt không chỉ đẹp về tạo hình mà còn mang những nét tiêu biểu nhất của minh triết Việt.

Vậy đâu là trung tâm, xin quý độc giả suy ngẫm!

Discovering the hidden lives of servants

The Muong study

Bùi Tuyết Mai, & Vũ Đức Tân. (1999). Người Mường ở Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản văn hóa dân tộc.

Cuisiner, J. (1995). Nguoi Muong: Dia ly nhan van va xa hoi hoc (translated, Les Mường, Geographie humaine et sociologie. Paris Institute d'ethnologie, 1948). Hanoi: Nha xuat ban lao dong.

Ishii, Y. (2003). Paddy, water environment, and people's welfare in Monsoon Asia. Paddy and Water Environment, 1(3), 111-114. doi: 10.1007/s10333-003-0024-1

Kahin, G. (1972). Minorities in the Democratic Republic of Vietnam. Asian Survey, 12(7), 580-586.

Nguyễn Văn Tài. (1978). Góp thêm tài liệu cho việc đoán định thời điểm chia tách của hai ngôn ngữ Việt Mường. Tạp chí dân tộc học, 3, 23-28.

Peters, J. (2001). Transforming the ``model'' approach to upland rural development in Vietnam. Agriculture and Human Values, 18(4), 403-412.

Phạm Đức Dương. (1986). Những vấn đề ngôn ngữ học về các ngôn ngữ phương Đông. Hà Nội: Viện Ngôn ngữ học.

Pham Ngoc Hien. (2011). Than lua trong ngay Tet o Viet Nam Retrieved 16/11/2011, from http://tapchivan.com/tin-khoa-hoc-va-nghe-thuat-than-lua-trong-ngay-tet-o-viet-nam-113.html

Phan Cẩm Thượng. (2012, 8/4/2012). Ruou can nha lang, The thao & Van hoa.

Phan, J. (2012). Mường is not a subgroup: Phonological evidence for a paraphyletic taxon in the Viet-Muong sub-family. Mon-Khmer studies, 40, 1-18.

Taylor, K. (2000). On being Muonged. Asian Ethnicity, 2(1), 25-34.

Taylor, K. W. (1998). Surface Orientations in Vietnam: Beyond Histories of Nation and Region. The Journal of Asian Studies, 57(4), 949-978.

Thompson, L. (1976). Proto-Viet-Muong Phonology. Oceanic Linguistics Special Publications, 13(Austroasiatic Studies Part II), 1113-1203.

Tran Thi Thu Trang. (2004a). From collectivization to globalization: social differentiation in a Muong ethnic community in Vietnam. In P. Taylor (Ed.), Social inequality in Vietnam and the challenges to reform (pp. 123-165). Singpore.

Tran Thi Thu Trang. (2004b). Local politics and democracy in a Muong ethnic community. In B. J. T. Kerkvliet & D. G. Marr (Eds.), Beyond Hanoi: local government in Vietnam (pp. 137-166). Singapore: Institute of Southeast Asia Studies.

Tran Thi Thu Trang. (2004c). Vietnam's rural transformation: information, knowledge and diversification. In D. McCargo (Ed.), Rethinking Southeast Asia, rethinking Vietnam (pp. 110-124). London and New York: RoutledgeCurzon.

Tran Tu. (1996). Nguoi Muong o Hoa Binh. Hanoi: Hoi khoa hoc lich su Viet Nam.

Vu Hong Phong. (2008). Male sexual health concerns in Muong Khen, Vietnam. Culture, Health & Sexuality, 10(1 supp 1), 139 - 150.

Wilson, R. (1966). A comparision of Mường with some Mon-Khmer languages. In N. Zide (Ed.), Studies in comparative Austroasiatic linguistics (pp. 203-213). London: Monton & Co.

Zhou, W. (2010). From forests to hamlets: productions of space, power, and desire at Cuc Phuong National Park, Vietnam. Columbia East Asia Review, 3(Spring), 66-76.

Informal practices that are similar to guanxi and blat

Hy Van Luong, & Unger, J. (1998). Wealth, Power, and Poverty in the Transition to Market Economies: The Process of Socio-Economic Differentiation in Rural China and Northern Vietnam. The China Journal(40), 61-93.

Soucy, A. (2006). Consuming loc—creating on: Women, offerings and symbolic capital in northern Vietnam. Studies in Religion/Sciences Religieuses, 35(1), 107-131.

Thang, L. C., Rowley, C., Quang, T., & Warner, M. (2007). To what extent can management practices be transferred between countries?: The case of human resource management in Vietnam. Journal of World Business, 42(1), 113-127.

De-collectivisation in Vietnam reading list

 

Vietnam de-collectivisation suggested reading list:

(Hoang Xuan Thanh et al., 2005; Kerkvliet, 1995; Kerkvliet & Selden, 1998; Koninck, 1999; Niimi et al., 2003; Raymond, 2008; Scott, 2000; Woodside, 1970)

Hoang Xuan Thanh, Dang Nguyen Anh, & Tacoli, C. (2005). Rural-urban linkages in Vietnam's Red River Delta (Vol. FCND Discussion Paper 193): International Food Policy Research Institute.

Kerkvliet, B. J. T. (1995). Village-State Relations in Vietnam: The Effect of Everyday Politics on Decollectivization. The Journal of Asian Studies, 54(2), 396-418.

Kerkvliet, B. J. T., & Selden, M. (1998). Agrarian Transformations in China and Vietnam. The China Journal(40), 37-58.

Koninck, R. D. (1999). Deforestation in Vietnam. Ottawa: International Development Research Centre.

Niimi, Y., Vasudeva-Dutta, P., & Winters, A. (2003). Trade liberalization and poverty dynamics in Vietnam (Vol. Working paper No. 17). Falmer: Poverty Research Unit at Sussex, University of Sussex.

Raymond, C. (2008). "No Responsibility and No Rice": The Rise and Fall of Agricultural Collectivization in Vietnam. Agricultural History, 82(1), 43-61.

Scott, S. (2000). Changing rules of the game: local responses to decollectivisation in Thai Nguyen, Vietnam. Asia Pacific Viewpoint, 41(1), 69.

Woodside, A. (1970). Decolonization and Agricultural Reform in Northern Vietnam. Asian Survey, 10(8), 705-723.